Thứ Ba, 6 tháng 1, 2015

CỜ QUẺ LY VÀ HỒ CHÍ MINH


Bùi Anh Trinh



Đế chế nhà Nguyễn chấm dứt, thành lập chính quyền cách mạng đầu tiên
Năm 1945; ngày 19-3, một tuần sau khi tuyên bố độc lập; Bảo Đại mời các thân hào nhân sĩ trong nước về Huế để bàn việc thành lập chính phủ cách mạng theo như đề nghị của đại sứ Nhật. Chuyển từ Đế chế sang chế độ Quân chủ lập hiến; tức là thực hiện cách mạng dân chủ; có Nội các, có Quốc hội, giống như nước Nhật.



Các ông cùng bàn nên thành lập Nội các trước bởi vì tình hình cho thấy Nhật sắp thua tới nơi nhưng Quốc gia cần phải có một lực lượng thay thế quân Nhật để cầm quyền điều hành đất nước, tránh tình trạng bị loạn vô chính phủ.

Năm 1945, tháng 3, Hồ Chí Minh từ Pác Bó trở lại Côn Minh dẫn theo một trung úy phi công Hoa Kỳ tên Wiliam Shaw, bị rớt máy bay trong vùng Cao Bằng. Ngày 17 tướng Trương Phát Khuê giới thiệu HCM với đại úy Charles Fenn, trưởng toán tình báo OSS của Hoa Kỳ (Tiền thân của CIA). Fenn kết nạp HCM làm nhân viên tình báo của Mỹ.

Ngày 29-3, Hồ Chí Minh xin gặp tướng Tư lệnh Không đoàn 14 của Hoa Kỳ tại Hoa Nam là Claire L.Chennault. Tướng Chenault tặng HCM một tấm ảnh có chữ ký để lưu niệm ( Hồi ký Patti ). HCM dùng tấm ảnh này sẽ chứng minh với dân chúng Việt Nam rằng ông ta là người của Mỹ đưa về.

Chính phủ Trần Trọng Kim và cờ Quẻ Ly

Năm 1945, cuối tháng 3, Trần Trọng Kim từ Bangkok về Sài Gòn rồi về Hà Nội, ngang qua Huế thì gặp giáo sư Hoàng Xuân Hãn và các vị khách của Bảo Đại. Ông ghé thăm Bảo Đại và được nhà vua nhờ ông thành lập nội các để đáp ứng với tình hình nước nhà mới tuyên bố độc lập.

Năm 1945, ngày 17-4, Hoàng đế Bảo Đại cho ra mắt chính phủ cách mạng Trần Trọng Kim. Gồm có Trần Trọng Kim thủ tướng. Bác sĩ Trần Đình Nam bộ tưởng bộ Nội vụ. Giáo sư Hoàng Xuân Hãn bộ trưởng bộ Quốc gia Giáo dục. Luật sư Trịnh Đình Thảo, bộ trưởng bộ tư pháp. Luật sư Vũ Văn Hiền bộ trưởng bộ Tài Chánh. Bác sĩ Nguyễn Hữu Thi bộ trưởng bộ tiếp tế. Bác sĩ Vũ Ngọc Anh bộ trưởng bộ Xã hội. Luật sư Phan Anh bộ trưởng bộ Thanh niên. Bác sĩ Hồ Tá Khanh bộ trưởng bộ Y tế. Kỹ sư Lưu Văn Lang bộ trưởng bộ Công chánh.

*Chú giải : Triều đại “Đế chế Việt Nam” của nhà Nguyễn kết thúc, kể từ ngày 17-4-1945 lá Quốc Kỳ đầu tiên của nước “Việt Nam Quân chủ lập hiến” được kéo lên. Lá cờ đó có nền màu Vàng với ba sọc màu đỏ. Mới đầu ba sọc đỏ là ba hào của quẻ Ly;( Vạch đỏ chính giữa đứt đoạn, còn hai vạch trên, dưới là hai vạch liền ).

Sở dĩ người ta lấy hình quẻ Ly làm biểu tượng bởi vì theo Kinh Dịch của Nho học thì quẻ Ly tượng trưng cho phương Nam. Trong khi đó, từ 4 ngàn năm về trước người ta đã gọi nước Việt là nước Nam, hoặc Đại Nam, hoặc An Nam ( “Nam quốc sơn hà Nam đế cư”, Đại Nam nhất thống chí, An Nam chí lược…). Vì vậy nhà Nho Trần Trọng Kim đã dùng hình quẻ Ly đưa lên lá Cờ để tượng trưng cho nước Nam.

Tuy nhiên khi lá cờ được kéo lên thì người ta xầm xì, e là điềm xấu; bởi vì chữ “ly” còn có nghĩa là chia lìa. Quả nhiên sau khi cờ Quẻ Ly được kéo lên vài tháng thì Nhật đầu hàng Đồng Minh. ĐCSVN nắm được chính quyền, và trong vòng 2 năm họ đã giết 10.500 đối thủ chính trị của họ ( Hồ sơ của Ủy ban Nhân quyền Liên Hiệp Quốc ). Những lãnh tụ nào còn sống sót thì đào thoát ra nước ngoài. Đúng là chia lìa ly tán.

*( Chú giải : Sau năm 1975, tại hải ngoại có giáo sư Nguyễn Ngọc Huy là người viết khảo luận chính xác nhất về ý nghĩa của lá cờ Vàng. Tuy nhiên vì giáo sư Huy thuở nhỏ học trường Pháp và lớn lên du học tại Pháp cho nên không rành về ý nghĩa của Dịch học và Âm dương gia học. Ông bị lầm lẫn về Bát quái đổ trong Kinh Dịch của Khổng tử với Ngũ hành đồ của Lão tử. Và ông cũng không biết tên gọi từ ngàn xưa của nước Việt là “nước Nam”

Ngoài ra giáo sư Huy cũng bị lầm lẫn về lá Quốc Kỳ của nước Việt Nam vào thời Trần Trọng Kim. Giáo sư Huy cho rằng cờ Quẻ Ly chỉ được treo ở Miền Trung và Miền Bắc, còn Miền Nam thì treo cờ Vàng sao đỏ của Lực lượng Thanh Niên Tiền Phong, một tổ chức chính trị do Quân đội Nhật hỗ trợ.

Thực ra ngày 10-3-1945, chính phủ Nhật tuyên bố : “Nhật sẽ giúp Việt Nam và các xứ Đông Dương thực hiện Độc Lập”. Kể từ đó các xứ Đông Dương tự kéo cờ của nước mình lên chứ người Nhật không áp đặt một chế độ hay một lá cờ cho một xứ nào. Vì vậy người Việt đã treo cờ Quẻ Ly từ Bắc chí Nam. Ở Nam Kỳ thì treo tại dinh Khâm sai Nguyễn Văn Sâm và các cơ quan hành chánh Nam Kỳ ).

Hồ Chí Minh có chống Nhật không ?

Sau này bộ máy tuyên truyền của ĐCSVN cho rằng “Lãnh tụ Hồ Chí Minh vĩ đại đã giải phóng dân tộc Việt Nam thoát khỏi bàn tay quân Phát xít Nhật”, nhưng sự thực thì quân của bác chưa giết được một người Nhật nào và người Nhật cũng chưa giết được một người nào của bác

Quả là bác Hồ Chí Minh có chủ trương chống Nhật; bằng chứng là bác ta đã theo Tưởng Giới Thạch, nhận tiền và cán bộ do Tiêu Văn cung cấp, và đã được Tướng Chenault của Mỹ tặng hình làm kỷ niệm cũng như giúp huấn luyện quân du kích. Nhưng ai cũng biết rằng bác ta làm điều đó là để theo Mỹ và theo Tưởng Giới Thạch chứ không phải vì quân Nhật đã làm điều gì sai quấy đối với bác.

Và rồi bác ta chỉ làm theo những gì mà tình báo Hoa Kỳ cũng như chính quyền Trung Hoa yêu cầu chứ bác ta không làm gì hơn. Người ta yêu cầu bác thâu lượm tin tức về quân đội Nhật tại vùng Thượng Du Bắc Việt cũng như nhờ cứu giùm các phi công Hoa Kỳ nếu chẳng may phi cơ của họ bị rơi. Bác đã làm đúng như vậy và không có hành động chống Nhật nào khác ngoài những chỉ thị của tình báo Hoa Kỳ.

Tại sao người Việt Nam không chống Nhật ?

Có một điều mà các em học sinh ưa hỏi là tại sao chỉ có một mình HCM chống lại Nhật mà các lãnh tụ ái quốc khác như Phan Bội Châu, Cường Để, Ngô Đình Diệm, Trần Trọng Kim, Bảo Đại, Phạm Công Tắc, Huỳnh Phú Sổ, Nguyễn Văn Sâm, Trần Văn Lý, Phan Văn Chánh, Hồ Hữu Tường, Trần Văn Ân, Dương Bá Trạc, Thái Văn Lung, Phạm Ngọc Thạch, Hồ Vĩnh Ký, Huỳnh Văn Phương, Phan Văn Giáo…lại theo Nhật?

Câu trả lời đơn giản là dân tộc Việt Nam chống thực dân Pháp mà người Nhật lại hạ thực dân Pháp và tuyên bố trao trả độc lập cho người Việt. ( Tự truyện của HCM dưới tên Trần Dân Tiên ).

Người Nhật đã lật đổ chế độ thực dân Pháp và tuyên bố trao trả chủ quyền cho Việt Nam, rồi giúp Bảo Đại tiến hành cách mạng chính trị trong nước bằng cách thiết lập thể chế dân chủ. Không cần biết người Nhật có thực lòng hay không nhưng vào thời 1945 thì đó là một nghĩa cử đẹp mà không ai có thể từ chối chứ đừng nói là chống lại.

Chính Bảo Đại đã đại diện cho dân chúng Việt Nam gải thích quan điểm của các ông lúc đó: “Trước khi có sự can thiệp của họ thì hai chữ “Độc lập”là hai chữ thiêng liêng… Nước Nhật đã đánh hồi chuông thức tỉnh. Những sự thành công ban đầu của họ đã cho chúng tôi phát thuốc hồi sinh. “Điều mà Nhật làm được tại sao chúng tôi không làm”? (Bảo Đại, Con rồng Việt Nam, trang 172).

Hồi ký của Tướng Đỗ Mậu cũng cho thấy suy nghĩ của người Việt lúc bấy giờ : “Biến cố lịch sử đêm mồng 9 tháng 3 năm 1945, và nhất là hai ngày sau đó, khi vua Bảo Đại tuyên bố “Việt Nam độc lập” trong khối “Thịnh vượng chung Đại Đông Á”,.. như một trở mình của lịch sử, có một tác dụng mạnh trong sự thức tỉnh sảng khoái của nhân dân cả nước sau 100 năm dài chìm đắm trong giấc mộng bị trị hãi hùng” ( Việt Nam Máu Lửa Quê Hương Tôi, trang 43 ).

Nếu Hồ Chí Minh không xuất hiện ?

Khi Nhật đầu hàng thì Bảo Đại và toàn dân Việt Nam trở thành có tội vì ủng hộ Nhật đánh đuổi Pháp (sic). Riêng chỉ có ông Hồ Chí Minh là lập được công với phe chiến thắng Hoa Kỳ. Nhờ vậy mà ông ta và ĐCSVN được Mỹ cho phép thành lập chính quyền lâm thời tại Hà Nội.

Sau khi dân chúng tin tưởng Việt Minh là lực lượng của Đồng Minh thì quân của ông HCM nhân danh phe chiến thắng đi tiếp thu các cơ quan hành chánh của chính quyền Trần Trọng Kim và tìm giết tất cả những đoàn thể nào đã từng ủng hộ Nhật. Rốt cuộc sau tháng 8 năm 1945 cả nước trở thành tội phạm trước họng súng của quân Cọng sản Việt Minh.

Nếu ngày đó không có Hồ Chí Minh, nếu ngày đó tình báo Mỹ đừng đưa Hồ Chí Minh về nước thì Việt Nam cũng giống như Miến Điện, Malaysia, Indonesia, Lào, Cam Bốt. Các nước này cũng theo Nhật đánh đuổi thực dân và cũng được trao trả độc lập. Họ thành lập chính quyền cách mạng để điều hành đất nước như là chính phủ Trần Trọng Kim.

Và khi Nhật đầu hàng thì chính quyền của các quốc gia đó vẫn tiếp tục điều hành đất nước trong khi chờ đợi quân đội Đồng Minh đến giải giới quân đội Nhật. Sau đó họ tiếp tục tranh đấu, điều đình với thực dân để rồi cuối cùng nhận được độc lập mà không đổ máu, không có chia lìa tan nát.

Phải chăng là số phận của đất nước đã được định sẵn trong cái tên cờ quẻ “Ly”?

BÙI ANH TRINH

Quẻ ly trong Bát quái đồ — Cờ quẻ Ly lúc mới đề nghị








Cờ quẻ Ly hoàn chỉnh

Nguồn Báo Tổ Quốc
Đăng nhận xét